Thứ Bảy, ngày 03 tháng 11 năm 2012

CẤU THÀNH TỘI PHẠM VÀ VẤN ĐỀ XÁC ĐỊNH GIAI ĐOẠN THỰC HIỆN TỘI PHẠM



CẤU THÀNH TỘI PHẠM VÀ VẤN ĐỀ XÁC ĐỊNH GIAI ĐOẠN
THỰC HIỆN TỘI PHẠM
TS. Cao Thị Oanh
Trường Đại học Luật Hà Nội
Giai đoạn thực hiện tội phạm vừa thể hiện mức độ thực hiện ý định phạm
tội vừa liên quan trực tiếp đến trách nhiệm hình sự của người phạm tội. Vì vậy,
việc đưa ra một nguyên tắc hợp lý xác định giai đoạn thực hiện tội phạm tạo cơ sở
lý luận để xác định đúng giai đoạn thực hiện tội phạm đối với các trường hợp
phạm tội cụ thể là việc làm có ý nghĩa cả về mặt lý luận và thực tiễn. Tuy nhiên,
cho đến nay những người nghiên cứu về khoa học pháp lý hình sự vẫn chưa có
được tiếng nói chung về vấn đề này. Với mục đích góp phần tìm ra một quan điểm
thống nhất về nguyên tắc xác định giai đoạn phạm tội, bài viết này bàn về vấn đề
có hay không giai đoạn chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt đối với các trường
hợp phạm tội được quy định tại cấu thành tội phạm tăng nặng và cấu thành tội
phạm giảm nhẹ.
Giai đoạn thực hiện tội phạm được hiểu là các bước trong quá trình phạm
tội do cố ý bao gồm: chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt và tội phạm hoàn
thành. Các giai đoạn phạm tội này thể hiện các mức độ thực hiện tội phạm khác
nhau và do vậy, cũng phản ánh mức độ nguy hiểm cho xã hội khác nhau. Vì lý do
đó, luật hình sự Việt Nam cũng như luật hình sự nhiều nước trên thế giới đều có
các quy định xác định hình phạt được áp dụng đối với trường hợp chuẩn bị phạm
tội nhẹ hơn hình phạt đối với trường hợp phạm tội chưa đạt và hình phạt được áp
dụng đối với cả hai trường hợp phạm tội này đều nhẹ hơn hình phạt được áp dụng
đối với trường hợp tội phạm hoàn thành. Tinh thần này được thể hiện rõ tại Điều
52 Bộ luật hình sự Việt Nam về quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị
phạm tội, phạm tội chưa đạt như sau:
“1. Đối với hành vi chuẩn bị phạm tội và hành vi phạm tội chưa đạt, hình
phạt được quyết định theo các điều của Bộ luật này về các tội phạm tương ứng tùy
theo tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi, mức độ thực hiện ý định
phạm tội và những tình tiết khác khiến cho tội phạm không thực hiện được đến
cùng.
2
2. Đối với trường hợp chuẩn bị phạm tội, nếu điều luật được áp dụng có
quy định hình phạt cao nhất là tù chung thân hoặc tử hình, thì mức hình phạt cao
nhất được áp dụng là không quá hai mươi năm tù; nếu là tù có thời hạn thì mức
hình phạt không quá một phần hai mức phạt tù mà điều luật quy định.
3. Đối với trường hợp phạm tội chưa đạt, nếu điều luật được áp dụng có
quy định hình phạt cao nhất là tù chung thân hoặc tử hình, thì chỉ có thể áp dụng
các hình phạt này trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng; nếu là tù có thời hạn thì
mức hình phạt không quá ba phần tư mức phạt tù mà điều luật quy định.”
Tuy nhiên, quy định khá rõ ràng nói trên chỉ có thể được áp dụng một cách
chính xác và đầy đủ khi vấn đề giai đoạn thực hiện tội phạm đối với các trường
hợp phạm tội cụ thể được xác định đúng. Trong khi đó, hiện nay vấn đề có tồn tại
giai đoạn chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt đối với các tội phạm thuộc cấu
thành tội phạm tăng nặng và cấu thành tội phạm giảm nhẹ hay không lại đang là
vấn đề gây tranh luận. Có thể khái quát các quan điểm về vấn đề này thành ba
nhóm chính sau đây:
- Thứ nhất: Quan điểm cho rằng chỉ có những hành vi phạm tội được phản
ánh ở cấu thành tội phạm cơ bản mới có thể có đầy đủ cả ba giai đoạn phạm tội là:
chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt và tội phạm hoàn thành. Thể hiện quan điểm
này, GS.TS. Nguyễn Ngọc Hòa khẳng định: cấu thành tội phạm chưa hoàn thành
là cấu thành tội phạm dự phòng của cấu thành tội phạm cơ bản và không có tính
chất bình đẳng với cấu thành tội phạm cơ bản. Trong mối quan hệ với cấu thành
tội phạm cơ bản, cấu thành tội phạm chưa hoàn thành và trường hợp phạm tội có
dấu hiệu định khung hình phạt là bình đẳng với nhau. Do vậy, dấu hiệu định
khung hình phạt tăng nặng hoặc giảm nhẹ không có giá trị đối với cấu thành tội
phạm chưa hoàn thành như đối với cấu thành tội phạm cơ bản.1
- Thứ hai: Quan điểm cho rằng chỉ có những hành vi phạm tội được phản
ánh ở cấu thành tội phạm cơ bản mới có thể có đầy đủ cả ba giai đoạn phạm tội là:
chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt và tội phạm hoàn thành; đối với những hành
vi phạm tội được phản ánh trong cấu thành tội phạm tăng nặng và cấu thành tội
phạm giảm nhẹ thì ngoài trường hợp tội phạm hoàn thành chỉ có thể có giai đoạn
1 GS.TS. Nguyễn Ngọc Hòa, Tội phạm và cấu thành tội phạm, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2008,
tr.126.
3
phạm tội chưa đạt mà không thể có giai đoạn chuẩn bị phạm tội. Tác giả theo quan
điểm này cho rằng: đối với trường hợp chuẩn bị phạm tội, khung hình phạt được
áp dụng là khung cơ bản còn khung hình phạt áp dụng cho người phạm tội chưa
đạt sẽ là khung mà hành vi phạm tội thỏa mãn2.
- Thứ ba: Quan điểm cho rằng cả ba giai đoạn thực hiện tội phạm đều có
thể tồn tại đối với các tội phạm được quy định ở cấu thành tội phạm cơ bản, cấu
thành tội phạm tăng nặng và cấu thành tội phạm giảm nhẹ (đây là quan điểm của
tác giả bài viết này).
Như vậy, điểm chung của ba quan điểm trên là: 1) khẳng định ba giai đoạn
thực hiện tội phạm là chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt và tội phạm hoàn
thành tồn tại đối với cấu thành tội phạm cơ bản; 2) giai đoạn tội phạm hoàn thành
tồn tại ở cấu thành tội phạm tăng nặng và cấu thành tội phạm giảm nhẹ. Bên cạnh
những điểm chung đó, các quan điểm này không thống nhất trong việc xác định có
hay không có giai đoạn chuẩn bị phạm tội và giai đoạn phạm tội chưa đạt đối với
cấu thành tội phạm tăng nặng và cấu thành tội phạm giảm nhẹ.
Hai quan điểm đầu đã dựa trên những lập luận phù hợp riêng và đã thu hút
được sự đồng tình của một bộ phận không nhỏ những người nghiên cứu về luật
hình sự. Tuy nhiên, chúng tôi đánh giá rằng, mặc dù cách xác định đó có thể giúp
hạn chế một số vướng mắc cho thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự nhưng ở một
mức độ nhất định chúng chứa đựng những điểm thiếu phù hợp về mặt lý luận so
với quan điểm thứ ba.
Trước hết, nếu xuất phát từ khái niệm các loại cấu thành tội phạm này thì
có thể thấy cấu thành tội phạm tăng nặng hay cấu thành tội phạm giảm nhẹ chỉ
khác cấu thành tội phạm cơ bản ở chỗ: Ngoài dấu hiệu định tội, chúng còn có thêm
dấu hiệu phản ánh tội phạm có mức độ của tính nguy hiểm cho xã hội tăng lên một
cách đáng kể hay giảm đi một cách đáng kể (so với trường hợp bình thường). Loại
dấu hiệu định khung hình phạt (tăng nặng hay giảm nhẹ) có mặt trong hai loại cấu
thành tội phạm này hoàn toàn không có tính loại trừ các trường hợp phạm tội chưa
hoàn thành. Tất cả các trường hợp phạm tội được phản ánh trong cả ba loại cấu
thành tội phạm nói trên đều là sự tổng hợp của cả bốn yếu tố cấu thành tội phạm
2 TS. Dương Tuyết Miên, Định tội danh và quyết định hình phạt, Nxb. Công an nhân dân, Hà nội, 2004, tr.
277.
4
(khách thể, chủ thể, mặt khách quan và mặt chủ quan của tội phạm), chúng chỉ
khác nhau ở chỗ sự tổng hợp đó phản ánh mức độ của tính nguy hiểm cho xã hội
như thế nào so với trường hợp bình thường. Như vậy, nếu như trường hợp phạm
tội thuộc cấu thành tội phạm cơ bản có thể bao gồm trường hợp các dấu hiệu thuộc
khách thể, chủ thể và mặt chủ quan của tội phạm tồn tại giống như trường hợp tội
phạm hoàn thành nhưng các dấu hiệu về mặt khách quan lại mới chỉ ở mức độ tạo
ra các điều kiện thuận lợi để thực hiện tội phạm (chuẩn bị phạm tội) hoặc mới chỉ
thực hiện được một phần các dấu hiệu bắt buộc thuộc mặt khách quan (phạm tội
chưa đạt) thì cấu thành tội phạm tăng nặng hay cấu thành tội phạm giảm nhẹ cũng
có thể có những trường hợp phạm tội này. Nói cách khác, chuẩn bị phạm tội hay
phạm tội chưa đạt cần được hiểu là hai giai đoạn phạm tội gắn liền với tất cả
những trường hợp tội phạm hoàn thành của các tội phạm cụ thể (trừ những trường
hợp đặc biệt không thể có giai đoạn đó, ví dụ: tội phạm có cấu thành cắt xén).
Không ai phủ nhận rằng trường hợp một người chuẩn bị công cụ, phương tiện
phạm tội để thực hiện hành vi giết một người bình thường nhưng do nguyên nhân
khách quan không thể thực hiện được bước tiếp theo của tội phạm là trường hợp
chuẩn bị giết người (thuộc khoản 2 Điều 93 Bộ luật hình sự) và trường hợp người
đó thực hiện hành vi tước đoạt tính mạng nạn nhân nhưng do nguyên nhân khách
quan hậu quả chết người không xảy ra mà chỉ gây ra thương tích cho nạn nhân là
trường hợp phạm tội giết người chưa đạt (thuộc khoản 2 Điều 93 Bộ luật hình sự).
Việc xử lý các trường hợp nói trên đã căn cứ vào cấu thành tội phạm phản ảnh
tổng hợp các dấu hiệu của tội phạm như là người phạm tội nhằm thực hiện được
chứ không căn cứ vào cấu thành tội phạm tương ứng với thực tế diễn ra của hành
vi phạm tội (trường hợp phạm tội thứ hai trên đây không bị xử lý về tội cố ý gây
thương tích đã hoàn thành). Việc xử lý như trên không làm xuất hiện các ý kiến
trái chiều vì hoàn toàn phù hợp với tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm
tội: không muốn tội phạm dừng lại ở đó mà muốn nó diễn ra một cách nghiêm
trọng hơn. Chúng tôi cho rằng tinh thần này cần được hiểu là tinh thần chung khi
xem xét mọi trường hợp phạm tội mà diễn biến về mặt khách quan của tội phạm
chưa thể hiện đầy đủ mong muốn của người phạm tội. Ví dụ: trường hợp người
phạm tội chuẩn bị công cụ, phương tiện để giết nhiều người nhưng do nguyên
nhân khách quan nên không thực hiện tiếp được tội phạm cần được xác định là
5
chuẩn bị giết người thuộc khoản 1 Điều 93 Bộ luật hình sự và trường hợp người
đó đã thực hiện hành vi đầu độc nhưng do nguyên nhân khách quan nên tất không
có nạn nhân nào bị chết hoặc chỉ có một nạn nhân chết cũng cần được xác định là
phạm tội giết người chưa đạt theo khoản 1 Điều 93 Bộ luật hình sự chứ không phải
là phạm tội giết người chưa đạt hay tội giết người đã hoàn thành theo quy định tại
khoản 2 Điều này. Chỉ khi việc xác định giai đoạn phạm tội được thực hiện trên
nguyên tắc: dựa trên mức độ thực hiện ý định phạm tội khác nhau của người phạm
tội đối với tội phạm mà họ dự định thực hiện được một cấu thành tội phạm cụ thể
(có thể là cơ bản, tăng nặng hay giảm nhẹ) phản ánh thì việc xác định giai đoạn
thực hiện tội phạm cũng như trách nhiệm hình sự của người phạm tội mới phù hợp
đầy đủ với tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm mà người đó thực hiện. Tinh
thần này cũng được khẳng định tại Nghị quyết số 01/NQ-HĐTP ngày 04/8/2000
của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy
định trong phần chung của Bộ luật hình sự năm 1999 qua các nội dung sau: 1. “Ví
dụ: Nguyễn Văn A sửa soạn công cụ, phương tiện để thực hiện tội trộm cắp tài
sản. Nếu có đầy đủ căn cứ chứng minh rằng Nguyễn Văn A chuẩn bị thực hiện tội
trộm cắp tài sản thuộc khoản 3 hoặc khoản 4 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999,
thì tuyên bố Nguyễn Văn A phạm tội trộm cắp tài sản (chuẩn bị phạm tội).” và 2.
“Cần chú ý là chỉ khi có đầy đủ căn cứ chứng minh rằng tội phạm mà người phạm
tội không thực hiện được đến cùng vì những nguyên nhân ngoài ý muốn chủ quan
của họ thuộc khoản nào của điều luật tương ứng quy định về tội phạm đó, thì mới
áp dụng khoản, điều luật tương ứng đó. Trong trường hợp không xác định được tội
phạm mà họ thực hiện không đạt thuộc khoản tăng nặng cụ thể nào của điều luật
tương ứng quy định về tội phạm đó, thì áp dụng khoản nhẹ nhất của điều luật
tương ứng đó”. Những nội dung hướng dẫn này cho thấy nguyên tắc mà chúng tôi
đề xuất nói trên không chỉ có cơ sở lý luận mà còn được sử dụng trong thực tiễn.
Nguyên tắc nói trên lấy cơ sở để xác định các trường hợp tội phạm chưa
hoàn thành là những hành vi phạm tội được cùng một cấu thành tội phạm phản ánh
mà người phạm tội hướng đến thực hiện chứ không lấy cơ sở là chính hành vi cụ
thể mà người đó dự định thực hiện (vì khi đó việc xác định hình phạt sẽ quá phức
tạp và không cần thiết). Như vậy, trường hợp một người tìm cách lừa đảo chiếm
đoạt 700 triệu đồng là trường hợp người phạm tội mong muốn thực hiện tội phạm
6
được quy định tại khoản 4 Điều 139 Bộ luật hình sự (khoản 4 Điều 139 Bộ luật
hình sự quy định tài sản bị chiếm đoạt có giá trị từ 500 triệu đồng trở lên). Với cơ
sở để xác định trường hợp tội phạm chưa hoàn thành như trên thì nếu người phạm
tội mới chỉ tiến hành chuẩn bị các điều kiện thuận lợi để thực hiện hành vi lừa đảo
mà do nguyên nhân khách quan tội phạm bị dừng lại thì hành vi được xác định là
phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại khoản 4 Điều 139 Bộ luật
hình sự ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội. Trong khi đó, nếu theo quan điểm 1 và 2
nói trên thì những trường hợp này chỉ bị xử lý là trường hợp chuẩn bị phạm tội
theo khoản 1 Điều 139 Bộ luật hình sự. Nếu người phạm tội đã thực hiện hành vi
lừa đảo để chiếm đoạt 700 triệu đồng nhưng do nguyên nhân khách quan chưa
chiếm đoạt được đủ số tiền này thì cần phân biệt thành hai trường hợp:
- Nếu tài sản đã chiếm đoạt được có giá trị dưới 500 triệu đồng hoặc chưa
chiếm đoạt được tài sản thì trường hợp đó được xác định là phạm tội chưa đạt theo
quy định tại khoản 4 Điều 139 Bộ luật hình sự. Như vậy, ngay cả trường hợp chưa
chiếm đoạt được tài sản (1), trường hợp tài sản chiếm đoạt được dưới mức định
lượng tối thiểu của khoản 1 Điều 139 Bộ luật hình sự (2) hoặc trường hợp tài sản
đã chiếm đoạt được thuộc mức được quy định tại các khoản 1, 2 hay 3 Điều luật
này (3) thì người thực hiện hành vi lừa đảo vẫn bị coi là phạm tội chưa đạt theo
quy định tại khoản 4 Điều này. Trong khi đó, nếu theo quan điểm 1 nói trên thì
trường hợp (1) và (2) chỉ bị xử lý theo khoản 1 Điều 139 Bộ luật hình sự ở giai
đoạn phạm tội chưa đạt, trường hợp (3) chỉ bị xử lý là tội phạm hoàn thành theo
khoản 1, 2 hay 3 tùy thuộc vào giá trị tài sản đã bị chiếm đoạt được quy định ở
khoản nào. Cách xử lý này tuy có lợi cho người phạm tội nhưng không thể hiện sự
cân nhắc đầy đủ tính nguy hiểm của tội phạm trong trường hợp này. Một số người
không đồng tình với quan điểm 3 nhận xét: cách xử lý trường hợp (3) theo quan
điểm 3 gây ra những khó khăn trong việc chứng minh giá trị tài sản mà người
phạm tội tìm cách chiếm đoạt trong khi nếu xử lý theo giá trị tài sản đã thực tế
chiếm đoạt được thì đơn giản hơn nhiều. Ngược lại, chúng tôi cho rằng không thể
vì mục đích giảm bớt khó khăn cho hoạt động áp dụng pháp luật mà phủ nhận tính
khoa học của cách xử lý này và việc chứng minh các dấu hiệu của tội phạm khi có
ý nghĩa vẫn cần phải được thực hiện. Ngay cả những trường hợp xác định tội
phạm ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội hay phạm tội chưa đạt thuộc cấu thành tội
7
phạm cơ bản thì vẫn cần phải chứng minh sự thỏa mãn dấu hiệu định lượng khi nó
được quy định là dấu hiệu bắt buộc.
- Nếu tài sản đã chiếm đoạt được có giá trị từ 500 triệu đồng trở lên thì
trường hợp đó được xác định là tội phạm hoàn thành theo quy định tại khoản 4
Điều 139 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, khi cân nhắc hình phạt đối với nhóm trường
hợp này cũng cần tiếp tục tính đến mức độ phù hợp giữa diễn biến của tội phạm
với mục đích của người phạm tội. Ví dụ: nếu các tình tiết khác tương đương thì
trường hợp đã chiếm đoạt được 650 triệu đồng phải được xác định là nguy hiểm
hơn trường hợp mới chỉ chiếm đoạt được 500 triệu đồng.
Cách xác định giai đoạn phạm tội nói trên cũng được áp dụng đối với các
cấu thành tội phạm khác có cách quy định tương tự như tội cố ý gây thương tích,
tội trộm cắp tài sản…
Cùng với việc khẳng định tính hợp lý của nguyên tắc xác định các trường
hợp tội phạm chưa hoàn thành trên cơ sở những hành vi phạm tội được cùng một
cấu thành tội phạm phản ánh mà người phạm tội hướng đến thực hiện, chúng tôi
cho rằng quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự cần được sửa lại một cách phù hợp.
Theo đó, Điều luật cần khẳng định rõ cơ sở để xác định hình phạt đối với các
trường hợp phạm tội chưa hoàn thành là khung hình phạt được quy định tại cấu
thành tội phạm phản ánh trường hợp phạm tội đó. Cụ thể là Điều luật này cần
được sửa như sau:
“1. Đối với hành vi chuẩn bị phạm tội và hành vi phạm tội chưa đạt, hình
phạt được quyết định theo các điều, khoản của Bộ luật này về các tội phạm tương
ứng tùy theo tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi, mức độ thực
hiện ý định phạm tội và những tình tiết khác khiến cho tội phạm không thực hiện
được đến cùng.
2. Đối với trường hợp chuẩn bị phạm tội, nếu khung hình phạt được áp
dụng có quy định (bỏ từ này) hình phạt cao nhất là tù chung thân hoặc tử hình, thì
mức hình phạt cao nhất được áp dụng là không quá hai mươi năm tù; nếu là tù có
thời hạn thì mức hình phạt không quá một phần hai mức phạt tù mà điều luật quy
định.
3. Đối với trường hợp phạm tội chưa đạt, nếu khung hình phạt được áp
dụng có quy định (bỏ từ này) hình phạt cao nhất là tù chung thân hoặc tử hình, thì
8
chỉ có thể áp dụng các hình phạt này trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng; nếu
là tù có thời hạn thì mức hình phạt không quá ba phần tư mức phạt tù mà điều luật
quy định.”
Sau khi sửa đổi như trên, Điều luật này sẽ là cơ sở pháp lý cho phép xác
định giai đoạn thực hiện tội phạm một cách thống nhất từ đó quyết định hình phạt
phù hợp đối với các hành vi phạm tội này.